Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí quan trong của cả nước. Trên 30 năm qua, Đảng bộ và nhân dân thành phố đã không ngừng phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh và xây dựng Đảng. Phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng đã tạo nên động lực to lớn góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển thành phố.

1. Thực trạng phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng của thành phố trong những năm qua.
1.1- Công tác thi đua và Phong trào thi đua yêu nước của thành phố:
Qua từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của thành phố phong trào thi đua yêu nước đã thu hút, động viên và phát huy được sức mạnh của các tầng lớp cán bộ và nhân dân thành phố, hăng hái thi đua lao động sản xuất thực hiện hòan thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao.
- Giai đoạn từ năm 1975 đến 1980: Trong những năm đầu sau ngày Miền Nam hòan tòan giải phóng, tình hình kinh tế - xã hội chưa thực sự ổn định và phát triển, công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng cũng chưa được chú trọng ở các cấp, các ngành thuộc thành phố, các phong trào thi đua được tổ chức phát động qua các đòan thể quần chúng, có nơi có lúc còn mang tính tự phát nên tác dụng phong trào thi đua còn hạn chế.
- Giai đoạn từ năm 1981 đến 1988: Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố phong trào thi đua yêu nước được thể hiện tốt qua phong trào học và nhân điển hình tiên tiến trên địa bàn thành phố phát triển mạnh, nhiều phong trào mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh từ đó hình thành một số chủ trương chính sách về đổi mới quản lý kinh tế của thành phố. Để ghi nhận thành tích và động viên khen thưởng phong trào thi đua, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành quyết định 417/QĐ-UB ngày 10/11/1981: “khi đạt được các danh hiệu thi đua thì được nâng lương vượt cấp hoặc trước thời hạn, giải quyết nhà ở, được ưu tiên cấp vốn, vật tư....”, những nhân tố mới tích cực, nhân điển hình tiên tiến được khẳng định và đã đúc rút được những bài học kinh nghiệm qúy báu trong xác định phương hướng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố; phong trào thi đua yêu nước đã tạo được không khí phấn khởi thi đua lao động sáng tạo, lập nhiều thành tích xuất sắc trên nhiều lĩnh vực họat động về kinh tế - xã hội – an ninh quốc phòng trên địa bàn thành phố.
- Giai đọan từ năm 1989 đến 2006: Công tác thi đua, khen thưởng trong cơ chế hành chính tập trung, quan liêu bao cấp, đến giai đoạn này đã có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau, có ý kiến cho rằng trong cơ chế thi trường thì không cần thi đua mà tiền lương, tiền thưởng là yếu tố cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội; cũng có ý kiến cho rằng bộ máy xét xử, kỷ luật ngày càng tăng cường trong khi bộ máy thi đua, khen thưởng thì lại thu hẹp là điều vô lý... đây cũng là giai đoạn thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc giải thể Ban Thi đua trung ương và Ban thi đua các cấp, các ngành để kiện tòan Hội đồng Thi đua, khen thưởng các cấp do đó việc xác định nội dung, phương thức họat động cho công tác thi đua và phong trào thi đua yêu nước có phần lúng túng.
Nhận thức được vai trò, vị trí quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã kịp thời ban hành một số văn bản chỉ đạo về công tác thi đua – khen thưởng như Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03 tháng 6 năm 1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới; Chỉ thị 85-HĐBT, 46-CT và 395-CT của Thủ tướng Chính phủ; và các Nghị định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn thực hiện cũng được ban hành, đã có tác dụng uốn nắn những lệch lạc và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong công tác thi đua khen thưởng, phong trào thi đua từng bước được phục hồi; phong trào thi đua trong cơ chế thị trường không những không bị yếu tố cạnh tranh lấn át mà chính thi đua đã nâng yếu tố cạnh tranh lên một chất lượng mới: “cạnh tranh lành mạnh”, hạn chế tiêu cực trong cạnh tranh và phát huy tối đa các mặt tích cực của cạnh tranh, góp phần thúc đẩy nhanh năng suất, chất lượng và hiệu quả, hiệu suất công tác.
Về tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng của thành phố mặc dù từ năm 1988 Chính Phủ đã có Nghị định giải thể Ban Thi đua, Khen thưởng Trung ương và sáp nhập chức năng, nhiệm vụ của Ban Thi đua, Khen thưởng Trung ương với Viện Huân Chương thành lập Viện Thi đua, Khen thưởng Trung ương; nhưng tại thành phố, đến ngày 14 tháng 5 năm 1992 Ủy ban nhân dân thành phố mới ban hành Quyết định số 781/QĐ-UB về chấm dứt họat động Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố và kiện tòan Hội đồng Thi đua, Khen thưởng các cấp. Sau khi được kiện tòan, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, các ngành đã tăng cường tổ chức, chỉ đạo phong trào thi đua, sơ kết, tổng kết, mở hội nghị nhân điển hình tiên tiến, nhiều phong trào thi đua đã tạo ra động lực thúc đẩy thực hiện hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, giữ vững sự ổn định và phát triển thành phố như: Phong trào thi đua quyết thắng của lực lượng vũ trang; phong trào thi đua lao động giỏi; phong trào dạy tốt, học tốt; phong trào thi đua cải tiến kiểu dáng, chất lượng, tiết kiệm, đổi mới công nghệ trong ngành công nghiệp; thi đua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới trong nông nghiệp; phong trào thi đua xây dựng gia đình văn hóa, khu phố văn hóa; xóa đói giảm nghèo... Và từ các phong trào trên đã xuất hiện hàng chục ngàn tập thể, cá nhân điển hình, đó là những nhân tố mới trong đổi mới, phát triển đã được các cấp Chính quyền và Nhà nước biểu dương, khen thưởng kịp thời trên tất cả các lĩnh vực.
- Giai đọan từ năm 2006 đến nay: Cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước, vai trò, vị trí của công tác thi đua, khen thưởng cũng như vai trò của quần chúng và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã được nhìn nhận một cách đúng đắn, khách quan và được quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp các ngành từ Trung ương đến cơ sở; Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới, Chỉ thị số 39-CT-TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến cũng là cơ sở, là tiền đề cho Luật Thi đua, khen thưởng ra đời vào tháng 11/2003 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2005. Sau khi Luật Thi đua, khen thưởng được ban hành, Chính phủ đã có các Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 của Chính phủ quy định tổ chức làm công tác thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thực hiện các Nghị định của Chính phủ do Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương ban hành đã đánh dấu một bước ngoặt phát triển và đổi mới kể cả về nhận thức và hoạt động của công tác thi đua, khen thưởng của cả nước nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
1.2- Về công tác khen thưởng:
Trong từng giai đoạn cụ thể, công tác khen thưởng có nhiều điểm còn bất cập, như trước đây chủ yếu là khen tinh thần, các đối tượng được khen chỉ được cấp giấy khen, bằng khen và huân huy chương các loại; có lúc có nơi người ta chỉ quan tâm đến tiền thưởng mà coi nhẹ yếu tố ghi nhận thành tích thi đua; thời gian gần đây Nhà nước đã có các chính sách thưởng vật chất đối với các đối tượng được khen, đặc biệt là chính sách khen thưởng đối với diện chính sách, người có công, những người tham gia kháng chiến, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng... đã gây được khí thế phấn khởi trong nhân dân, củng cố được lòng tin của đồng bào, chiến sĩ đối với Đảng và Nhà nước. Đồng thời việc khen thưởng đối với kinh tế - xã hội cũng đã động viên được tinh thần nỗ lực phấn đấu trong thi đua lao động, sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, đời sống người dân được cải thiện và ổn định, tạo động lực mạnh mẽ trong phong trào thi đua xây dựng và phát triển đất nước và thành phố.
2. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của Ban Thi đua - khen thưởng thành phố từ năm 1975 đến nay
2.1. Giai đoạn 1975 – 1980:
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 1975, thành phố Hồ Chí Minh đã phải vượt qua khó khăn rất lớn, vừa phải phục hồi duy trì sản xuất, vận hành một thành phố lớn với 3,5 triệu dân, vừa phải cải tạo và vừa xây dựng nền kinh tế nhằm tạo nên sự thay đổi cơ bản để xứng với vị trí, vai trò là trung tâm nhiều mặt của cả nước, trước hết là khu vực phía Nam. Trong thời gian này công tác thi đua, khen thưởng chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chức năng nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng chưa rõ ràng, chủ yếu là công tác khen thưởng, nên thành phố chưa hình thành tổ chức Thi đua khen thưởng riêng biệt mà biên chế chuyên viên chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, thời gian đầu chỉ có 01 cán bộ chuyên trách, sau đó do yêu cầu nhiệm vụ của công tác thi đua, khen thưởng đã tuyển dụng thêm một số cán bộ và thành lập Phòng thi đua nằm trong Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Phòng thi đua chịu sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố phụ trách chung công tác thi đua, khen thưởng của thành phố. Đối với các đơn vị sở, ban, ngành, đòan thể và các cơ quan, đơn vị do mới hình thành nên cũng chưa có bộ phận chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng.
2.2. Giai đọan 1981 đến 1988
Trước tình hình phát triển của thành phố, hệ thống chính trị các cấp đã ổn định, nhiều phong trào thi đua đã phát huy hiệu quả thiết thực trong thực hiện hòan thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển thành phố. Ngày 24 tháng 10 năm 1981, Ủy ban nhân dân thành phố có Quyết định số 242/QĐ-UB, về việc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp thuộc thành phố Hồ Chí Minh, thành lập Hội đồng Thi đua thành phố, thành lập Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố.
Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố là cơ quan chuyên môn giúp Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng và bình chọn, học tập nhân điển hình tiên tiến toàn thành phố, đồng thời là cơ quan thường trực giúp việc cho Hội đồng thi đua thành phố. Ban Thi đua - Khen thưởng là cơ quan tương đương cấp Sở của thành phố, là một đơn vị dự toán của thành phố, được sử dụng con dấu riêng và mở tài khoản ở ngân hàng.
Về nhân sự và tổ chức bộ máy: Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố do một Trưởng ban và một số Phó trưởng ban giúp việc cho Trưởng ban; 01 phòng nghiên cứu tổng hợp phong trào thi đua và bình chọn nhân điển hình tiên tiến, gọi tắt là Phòng Tổng hợp thi đua; 01 Phòng khen thưởng tổng kết và niên hạn; 01 Văn phòng (tổng hợp, hành chính, quản trị). Ban làm việc theo chế độ Thủ trưởng kết hợp với bàn bạc tập thể, phân công cá nhân phụ trách. Trong giai đoạn này do nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng ngày càng nặng nề, vì vậy phải tăng cường cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng ở thành phố cũng như các cấp các sở, ngành, quận, huyện ( các quận, huyện có Ban Thi đua, khen thưởng thuôc Ủy ban nhân dân quận, huyện, các sở, ngành có Phòng thi đua, khen thưởng thuộc sở, ngành) nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác thi đua, khen thưởng, đặc biệt là công tác khen thưởng kháng chiến lúc này là giai đoạn cao điểm, giai đoạn này cũng là giai đoạn có số lượng cán bộ biên chế của Ban Thi đua, Khen thưởng thành phố cao nhất từ trước đến nay (35 người).
2.3. Giai đoạn 1989 - 2006
Thực hiện Nghị định 223/HĐBT ngày 08/12/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi tổ chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng; Văn bản số 103/TCCB ngày 21/4/1989 của Ban Tổ chức Chính phủ về việc hướng dẫn tổ chức thi đua, khen thưởng ở địa phương. Sau 11 năm họat động dưới tên gọi Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố, ngày 14 tháng 5 năm 1992, Ủy ban nhân dân thành phố đã có Quyết định số 781/QĐ-UB về chấm dứt họat động Ban Thi đua - Khen thưởng và kiện tòan Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp theo Nghị định 223/HĐBT ngày 08/12/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi tổ chức chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng; đồng thời đổi tên Hội đồng Thi đua thành phố, Hội đồng thi đua cấp quận - huyện và sở - ban - ngành thành phố được thành lập theo quyết định số 401/QĐ-UB ngày 18/11/1983 của Ủy ban nhân dân thành phố thành Hội đồng Thi đua và Khen thưởng.
Theo Quyết định số 781/QĐ-UB ngày 14/5/1992, Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố đã trở thành bộ phận Thường trực Hội đồng Thi đua và Khen thưởng, để giúp Hội đồng theo dõi, động viên phong trào thi đua và thực hiện chủ trương, chính sách, chế độ khen thưởng và thống nhất danh hiệu thi đua trong tòan thành phố.
Bộ phận Thường trực Hội đồng Thi đua và Khen thưởng chịu sự chỉ đạo về công tác chuyên môn nghiệp vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc Ủy viên thường trực của Hội đồng Thi đua và Khen thưởng, Văn phòng Ủy ban nhân dân đảm nhận công tác hành chính quản trị cho bộ phận thường trực Hội đồng Thi đua và Khen thưởng thành phố ( thực tế ở thành phố Hồ Chí Minh bộ phận Thường trực Hội đồng Thi đua, khen thưởng thành phố vẫn là một cơ quan độc lập có con dấu và tài khoản riêng không nằm trong văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố).
Đây là giai đoạn bước vào thời kỳ đổi mới của đất nước, tuy nhiên trên lĩnh vực thi đua, khen thưởng lại có nhiều sự biến động và tổ chức bộ máy làm công tác thi đua khen thưởng cũng như chức năng nhiệm vụ, vai trò, vị trí của Ban Thi đua - Khen thưởng, vì vậy công tác thi đua, khen thưởng có hạn chế một số mặt.
Về cơ cấu nhân sự và tổ chức bộ máy: Bộ phận thường trực của Hội đồng Thi đua và Khen thưởng thành phố có 01 Phó Chủ tịch chuyên trách thường trực và một Tổ cán bộ chuyên trách giúp việc; Tổ cán bộ chuyên trách của Hội đồng Thi đua và Khen thưởng thành phố và quận - huyện có biên chế riêng còn đối với các sở - ban - ngành chủ yếu là kiêm nhiệm.
Trong giai đọan này, tổ chức và nhân sự làm công tác thi đua, khen thưởng của thành phố được tinh giản đáng kể, từ biên chế 35 người trước đó chỉ còn lại từ 10 đến 14 người.
2.5. Giai đọan 2006 đến nay
Thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2005; Nghị định số 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 của Chính phủ quy định tổ chức làm công tác thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thực hiện các Nghị định của Chính phủ do Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương ban hành. Ngày 10 tháng 3 năm 2006, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyêt định số 38/2006/QĐ-UB về việc thành lập Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố và tổ chức bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp.
Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố là cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; có chức năng tham mưu và giúp Ủy ban nhân dân thành phố quản lý Nhà nước về thi đua - khen thưởng trên địa bàn thành phố, thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước và tổ chức các hoạt động thi đua - khen thưởng theo quy định của pháp luật, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực thi đua - khen thưởng theo quy định của Nhà nước.
Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố; đồng thời, chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ công tác thi đua - khen thưởng của Ban Thi đua - Khen thưởng TW.
Về cơ cấu nhân sự và tổ chức bộ máy: Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố có 01 Trưởng ban và từ 01 đến 02 Phó Trưởng ban giúp việc Trưởng ban; 01 Phòng Tổ chức - Hành chính - Tổng hợp và 02 Phòng Nghiệp vụ; tổng số cán bộ công chức theo biên chế được phân bổ là 25 người. Biên chế của Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố giao trong tổng chỉ tiêu biên chế hành chính của thành phố.
Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố có tư cách pháp nhân, có trụ sở riêng, có con dấu và tài khoản riêng, được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước.
Trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển, Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố đã có nhiều nỗ lực tích cực, thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả các phong trào thi đua và công tác khen thưởng của thành phố; đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng có trình độ năng lực, tận tụy với công việc, có tác phong lối sống trong sạch, lành mạnh, luôn có mối quan hệ thân mật, gần gũi với các cấp, các ngành, tạo được sự gắn bó, phối hợp tốt trong thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng được thành phố giao.
3. Thành tích đạt được:
Với những công lao, thành tích đóng góp cho sự nghiệp công tác thi đua, khen thưởng của thành phố trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển đến nay, Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố đã được tặng thưởng:
- Huân chương lao động Hạng Ba, do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng năm 1984;
- Cờ thi đua của Chính phủ: Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2003.
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: Nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thi đua và Khen thưởng Trung ương.
- Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố: Nhiều năm được Ủy ban nhân dân thành phố tặng bằng khen hòan thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
4. DANH SÁCH CÁN BỘ, CHUYÊN VIÊN, CÔNG CHỨC CÁC THỜI KỲ
GIAI ĐOẠN 1976 – 1980
Trưởng, Phó phòng: Đ/c Võ Thượng Sách
Cán bộ công chức:
|
- Đ/c Thái Hoài Sơn
- Đ/c Nguyễn Ngọc Ẩn (chết)
- Đ/c Nguyễn Thị Kim Hoàn(chết)
- Đ/c Nguyễn Tất Hiển.
|
- Đ/c Nguyễn Thị Ái
- Đ/c Đào Thị Huệ
- Đ/c Nguyễn Văn Vũ
- Đ/c Nguyễn Văn Kích
|
GIAI ĐOẠN 1981 – 1992
Trưởng Ban: Đ/c Võ Thượng Sách
Phó trưởng Ban:
|
- Đ/c Nguyễn Ngọc Ẩn (chết)
- Đ/c Nguyễn Chiêu
- Đ/c Phan Khắc Long (chết)
|
- Đ/c Đinh Văn Dây
- Đ/c Lê Đắc Thắng
|
Trưởng, Phó phòng:
|
- Đ/c Nguyễn Tất Hiển
- Đ/c Nguyễn Văn Kích
- Đ/c Nguyễn Thị Kim Hoàn(chết)
- Đ/c Đỗ Khắc Tịnh (chết)
|
- Đ/c Bùi Đăng Sơn
- Đ/c Nguyễn Bá Đồng(chết)
- Đ/c Nguyễn Đình Tứ
- Đ/c Trương Minh Sao
|
Cán bộ công chức:
|
- Đ/c Võ Minh Thắng
- Đ/c Phạm Văn Đẳng
- Đ/c Nguyễn Kinh Kha
- Đ/c Nguyễn Văn Vũ
- Đ/c Đỗ Văn Đạo
- Đ/c Trần Anh Tuấn
- Đ/c Huỳnh Ngọc Soan
- Đ/c Nguyễn Xuân Nghiêm
- Đ/c Vũ Thị Hạnh
- Đ/c Hoàng Mạnh Cường
- Đ/c Hồ Thị Loan
- Đ/c Lê Thị Nhàn
- Đ/c Lê Anh Minh
- Đ/c Nguyễn Thị Kim Hoa
- Đ/c Nguyễn Ngọc Gấm
|
- Đ/c Nguyễn Thị Huệ
- Đ/c Trần Huy Sơn
- Đ/c Nguyễn Thị Ái
- Đ/c Đào Thị Huệ
- Đ/c Nguyễn Quốc Tuấn
- Đ/c Nguyễn Văn Chinh
- Đ/c Lê Kim Phụng
- Đ/c Lê Nam Dung
- Đ/c Nguyễn Trọng Nghĩa
- Đ/c Phan Văn Thiệt
- Đ/c Đặng Thị Kim Hà
- Đ/c Nguyễn Văn Trọng
- Đ/c Nguyễn Đăng Hùng
|
GIAI ĐOẠN 1992 – 2006
Phó Chủ tịch HĐTĐKT
|
- Đ/c Lê Đắc Thắng
- Đ/c Phan Thám
- Đ/c Nguyễn Ngôn (chết)
|
- Đ/c Đinh Thị Bạch Mai
- Đ/c Nguyễn Thị Như Thủy.
|
Cán bộ công chức
|
- Đ/c Võ Minh Thắng
- Đ/c Phạm Văn Đẳng
- Đ/c Đỗ Văn Đạo
- Đ/c Huỳnh Ngọc Soan
- Đ/c Hoàng Mạnh Cường
- Đ/c Hồ Thị Loan
- Đ/c Đào Thị Yến Anh
- Đ/c Nguyễn Thị Huệ
|
- Đ/c Nguyễn Thế Phương
- Đ/c Cao Thị Kim Anh
- Đ/c Trần Thị Thùy Lan
- Đ/c Nguyễn Văn Trọng
- Đ/c Đỗ Vũ Bằng
- Đ/c Nguyễn Thị Sương Tuyết
- Đ/c Lưu Thị Kim Liên
- Đ/c Nguyễn Thanh Thảo
|
GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN NAY
Trưởng Ban: Đ/c Nguyễn Thị Như Thủy
Phó trưởng Ban: Đ/c Đỗ Văn Đạo
Trưởng, Phó phòng:
- Đ/c Hoàng Nghĩa Huỳnh - Trưởng phòng TCHCTH
- Đ/c Nguyễn Thị Thu Sương - Phó phòng TCHC TH
- Đ/c Võ Minh Thắng - Trưởng phòng NV1
- Đ/c Hồ Thị Loan - Phó phòng Nghiệp vụ 1
- Đ/c Phạm Văn Đẳng - Trưởng phòng NV2
- Đ/c Hùynh Ngọc Soan - Phó phòng Nghiệp vụ 2
Cán bộ công chức:
|
- Đ/c Lưu Thị Kim Liên
- Đ/c Nguyễn Thị Huệ
- Đ/c Nguyễn Thị Sương Tuyết
- Đ/c Đào Thị Yến Anh
- Đ/c Đỗ Thị Thanh Hồng
- Đ/c Nguyễn Thanh Thảo
|
- Đ/c Đỗ Vũ Bằng
- Đ/c Nguyễn Tú Hoa
- Đ/c Hoàng Mạnh Cường
- Đ/c Lương Thị Hồng Hoa
- Đ/c Trần Sao Lê
|