Anh Nguyễn Đình Trung, sinh năm 1967
Năm 1999, anh cưới vợ là chị Nguyễn Thị Thuận (sinh năm 1971), hiện nay có con trai 7 tuổi và con gái 5 tuổi.
Năm 2001, hai vợ chồng anh bán căn hộ chung cư ở quận 4 được 70 triệu đồng về mua đất ở Củ Chi 50 triệu đồng, còn lại 20 triệu để dựng nhà và lấy vốn làm ăn. Gói gọn trong 20 triệu đồng ấy, anh dựng được một ngôi nhà lá ở tạm (nhiều người đã chọc anh: chắc ở Củ Chi chỉ còn mình vợ chồng anh ở ngôi nhà lá như vậy) và mua được 2 con bò sữa giá rẻ để làm kế sinh nhai trước mắt. Vợ anh chăm sóc con nhỏ và nuôi bò, còn anh đi làm ở nhà máy sữa.
Cuộc sống đối mặt với khó khăn thường nhật: vì bò giá rẻ nên hiệu quả không cao, thu nhập ở nhà máy sữa thì quá ít ỏi, không đủ sống. Đến đầu năm 2002, anh quyết định nghỉ nhà máy sữa về làm kinh tế hộ gia đình với tất cả vốn liếng là 2 con bò sữa già và 700m2 đất. Khó khăn và thách thức càng trở nên lớn hơn … vừa nuôi bò, vừa nghĩ kế … và anh sớm nhận ra rằng: ở Củ Chi nông dân nuôi bò sữa rất nhiều, lượng phân bò rất lớn, bán thì với giá rất rẻ thậm chí cho không, để thì ô nhiễm môi trường. Anh tự nhủ giá như có con gì ăn phân bò thì hay biết mấy. Anh bắt đầu tìm hiểu, qua bạn bè, qua Hội Nông dân huyện Củ Chi, anh biết được con trùn quế.
Tháng 3 năm 2002, anh tìm đến Trung tâm quản lý và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, tham dự lớp tập huấn 3 ngày về kỹ thuật nuôi trùn. Được ngân hàng nông nghiệp huyện Củ Chi hỗ trợ cho vay 10 triệu đồng làm vốn, anh mở chuồng trại và mua giống về nuôi.
Trong suốt năm 2002, vừa nuôi vừa đúc kết kinh nghiệm và nhân giống cho nhiều trước khi bán. Vì nghề nuôi trùn còn mới mẻ, lý thuyết còn nhiều điều chưa đề cập đến, thực tế còn quá ít ỏi, nên gặp phải không ít khó khăn. Mua giống hết 6 triệu đồng, về nhà trùn chết gần hết, những lúc này vợ chồng không tránh khỏi lục đục… Không mất kiên nhẫn, anh trở lại nơi bán giống, họ cho anh 1 ít phần trùn trong đó một lượng trứng, kén trùn, bắt đầu nhân lại.
Kinh nghiệm ngày một dày hơn, đến cuối năm 2002 anh đã có một lượng trùn khá nhiều và bắt đầu đem bán. Lúc này, công việc kinh doanh chưa thuận lợi vì sản phẩm của nghề nuôi trùn còn quá xa lạ với nhiều người.
Khi đưa phân trùn vào thị trường khách hàng không hiểu phân trùn là gì. Con trùn đưa vào thị trường khách hàng không hiểu con trùn dùng để làm gì. Phải mất khá nhiều công sức, thời gian và sự nỗ lực để họ hiểu và thừa nhận… Trong suốt giai đoạn này, niềm tin trong anh đôi lúc bị lung lay, nhưng vẫn đứng vững vì có một nguồn động viên lớn, một nguồn an ủi lớn, đó là tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa - Giám đốc Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp - Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam. Ông rất mê con trùn và phân trùn, một sản lượng lớn phân trùn đã bán cho ông. Dần dà anh mạnh dạn quảng cáo, được các phương tiện truyền thông của Nhà nước hỗ trợ : đài, báo, truyền hình viết phóng sự đưa tin quảng bá lợi ích của việc nuôi trùn, các cuộc hội chợ triển lãm do Sở Khoa học và Công nghệ thành phố tổ chức đều dành một gian hàng cho trùn quế, đến nay sản phẩm của nghề nuôi trùn đã và đang có chỗ đứng trên thị trường.
Nếu xét hiệu quả kinh tế, nghề nuôi trùn cho hiệu quả kinh tế rất lớn mà vốn đầu tư (đầu vào) lại rất nhỏ nghĩa là tỉ suất lợi nhuận rất lớn:
Năm 2003 lãi sau khi trừ mọi chi phí trên 100 triệu đồng với diện tích đất canh tác 1.200m2.
Năm 2004 lãi trên 200 triệu đồng.
Năm 2005 lãi trên 300 triệu đồng.
Chỉ xét riêng năm 2006 lãi sau khi trừ mọi chi phí khoảng 500 triệu đồng trên diện tích đất canh tác hơn 5.000m2 đất.
Trong 5 năm nuôi trùn đến nay, anh đã mua được hơn 5.000m2 đất, cũng có nhà lầu, cũng có xe hơi, từ một ngôi nhà lá nhỏ, 700m2 đất và 2 chú bò già. Với hiệu quả kinh tế như vậy cũng nhờ sự hỗ trợ không nhỏ từ phía Nhà nước: Ngân hàng nông nghiệp huyện Củ Chi, Hội Nông dân huyện Củ Chi, các phương tiện truyền thông, Sở Khoa học Công nghệ thành phố và sự nỗ lực không ngừng của bản thân cùng gia đình anh. Anh đã đa dạng hoá các sản phẩm của nghề nuôi trùn, không chỉ gói gọn trong những sản phẩm thông thường là con trùn và phân trùn đã tạo ra 3 sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao hơn: đó là sản phẩm trùn sống, sản phẩm trùn vỉ đông lạnh để cung cấp cho cá kiểng trong nước rồi hướng tới xuất khẩu. Và sản phẩm thứ 3 là “phân trùn đỏ Trumix” có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn phân trùn đỏ thông thường, thích ứng tốt hơn quá trình hội nhập và cạnh tranh.
Cơ sở nuôi trùn của anh đã tạo được công ăn việc làm ổn định cho 5 lao động với thu nhập không dưới 2 triệu đồng / tháng. Thiết nghĩ ở một quy mô lớn nghề nuôi trùn sẽ tham gia tích cực để giải quyết công ăn việc làm, xử lý ô nhiễm môi trường do chất thải từ chăn nuôi.
Riêng ở địa bàn xã Tân Thạnh Đông, Củ Chi có trên dưới 10.000 con bò sữa. Nếu tính mỗi con thải ra 10 kg phân bò mỗi ngày thì sẽ có 100 tấn phân. Vậy, huyện Củ Chi mỗi ngày sẽ có hàng nghìn tấn phân thải ra. Khói công nghiệp và hàng ngàn tấn phân mỗi ngày, nếu không được xử lý môi trường sống của chúng ta sẽ bị ô nhiễm nặng nề …
Mặt khác hàng ngàn tấn phân mỗi ngày nếu đựơc xử lý tại nguồn trước khi đem ra lưu thông thì sẽ đỡ được nhiều tiền về chi phí vận chuyển mà không gây ô nhiễm cho các địa bàn khác. Mà cách xử lý tại nguồn tốt nhất là nuôi trùn ở Củ Chi, và tất cả các địa bàn có nguồn nguyên liệu là phân bò làm thức ăn cho chúng.
Đến nay có nhiều trại trùn lớn mọc lên ở huyện Củ Chi, Hóc Môn… các địa bàn xa hơn như Bến Tre, Tiền Giang, An Giang… và rất nhiều điểm nuôi trùn nhỏ lẻ… đã gặt hái được những thành công nhất định. Họ cũng lấy giống và nắm bắt kỹ thuật từ chỗ anh.
V.P